Ý nghĩa Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7

Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2017), Bảo tàng Đắk Lắk ôn lại sự ra đời của Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 nhằm giới thiệu và tuyên truyền cho thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất của thế hệ đi trước, sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước đối với thương binh liệt sĩ và người có công với Cách mạng; đồng thời thành kính tri ân những người con bất khuất, kiên trung hi sinh quên mình vì Tổ quốc.

Chi đoàn Bảo tàng tham gia thắp nến tri ân Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 (Ảnh Đào Đức Ngọc)

 

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Thời điểm này, chính quyền cách mạng còn non trẻ trong khi thực dân Pháp đang âm mưu trở lại xâm lược nước ta. Với tinh thần yêu Tổ quốc, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, quân và dân ta kiên cường chống trả, ngăn chặn sự xâm lược trở lại của Pháp. Nhiều chiến sĩ, đồng bào ta bị thương, hi sinh và đau thương hơn khi rất nhiều người vĩnh viễn gửi tuổi thanh xuân vào lòng đất. Những mái nhà chỉ còn lại người phụ nữ mãi mãi trông ngóng người chồng, người con nơi chiến trận trở về.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã quan tâm, thương yêu, tận tình chăm sóc các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ chu đáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. 

Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh. 

Thương binh là người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào.

Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.

Đầu năm 1946, Hội Giúp binh sĩ bị nạn (sau đổi thành Hội Giúp binh sĩ bị thương) được thành lập ở Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), Hà Nội và một số địa phương khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Hội trưởng danh dự của Hội. Chiều ngày 28/5/1946, tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một buổi nói chuyện quan trọng để kêu gọi mọi người gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sĩ bị thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự. Sau đó, ngày 17/11/1946, cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên Hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong “Mùa đông binh sĩ”, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ” trong cả nước để giúp chiến sĩ trong mùa đông giá rét. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự buổi lễ và Người đã cởi chiếc áo đang mặc để tặng binh sĩ.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã nhất tề đứng dậy kháng chiến chống lại kẻ thù xâm lược. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu ngày càng tăng lên. Đời sống của chiến sĩ, nhất là những chiến sĩ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết định với những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sĩ nhằm ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sĩ.

Ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.

Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sĩ và thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một ngày làm ngày Thương binh - Liệt sĩ. Tại cuộc họp, các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27/7 là ngày Thương binh toàn quốc.

Đúng 18 giờ ngày 27/7/1947, tại xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, có khoảng 300 đại biểu Việt Minh, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Đoàn Thanh niên, Nha Thông tin, Cục Chính trị quân đội, chính quyền huyện, bộ đội và nhân dân địa phương đã dự mít tinh nghe công bố bức thư đầu tiên của Hồ Chủ tịch gửi đến Ban tổ chức ngày thương binh và ghi nhận sự ra đời của ngày Thương binh toàn quốc. Bác Hồ cũng đã gửi đến các thương binh một chiếc áo lụa do chị em Hội Phụ nữ kính biếu Người và một tháng lương, cùng với một bữa ăn của Người và toàn thể nhân viên làm việc trong Phủ Chủ tịch. Từ đó hàng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở nhân dân cả nước phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sĩ.

Tháng 7/1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi Ngày Thương binh toàn quốc thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ để ghi nhận và tri ân những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27/7 hàng năm chính thức trở thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ của cả nước. Mỗi năm cứ đến Ngày Thương binh - Liệt sĩ, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đều tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, đầy nghĩa tình, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người con đã hi sinh, cống hiến xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc; qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

 

Phòng Truyền thông

 

 

 

 

 

 

Tin xem nhiều nhất

Đôi nét về văn hóa phi vật thể của người Êđê ở Đắk Lắk trong công cuộc đổi mới

Văn hoá phi vật thể gồm nhiều yếu tố cấu thành. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ đề cập ...

Quân và dân Đắk Lắk với cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945

Đầu tháng 8/1945, ở Đắk Lắk, những yếu tố của thời kì tiền khởi nghĩa đã hình thành và bùng lên ...

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột giải phóng tỉnh Đắk Lắk (10/3/1975 – 10/3/2015) Lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk tiến quân giải phóng quận Lạc Thiện (Lắk) “Sự kiện nhiều người ít biết đến”

Đại tá Phan Công Thí

Nguyên Chủ nhiệm Chính trị

Bộ chỉ  huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk

Thực hiện quyết ...

Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ tài nguyên rừng tại Bảo tàng Đắk Lắk

Trong bối cảnh hiện nay, khi rừng và các tài nguyên rừng của Đắk Lắk ngày càng bị tàn phá nặng nề ...

Phụ nữ Việt Nam và tám chữ vàng

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã ghi nhận sự đóng góp vô cùng to lớn của các ...

Sưu tầm tư liệu Lễ đàn Tứ phủ tại đền Vạn Kiếp

Sưu tầm tư liệu, hình ảnh bổ sung cho kho tàng văn hóa phi vật thể là hoạt động thường xuyên của ...

Khai quật thám sát di chỉ khảo cổ học thôn Xuân Vĩnh xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk

Di chỉ Xuân Vĩnh nằm trên một ngọn đồi khá thoải, thuộc thôn 7 xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, ...

Danh lam thắng cảnh

Danh lam thắng cảnh

KHÁCH SẠN GẦN BẢO TÀNG

Nhà hàng

Số lượt truy cập

000493000
Hôm nay
Trong tuần
Trong tháng
Tất cả
431
1078
9491
493000