Khai quật thám sát di chỉ khảo cổ học thôn Xuân Vĩnh xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk

Di chỉ Xuân Vĩnh nằm trên một ngọn đồi khá thoải, thuộc thôn 7 xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Xung quanh được bao bọc bởi hai con suối, đó là suối Ea Mâm ở phía Đông Bắc bắt nguồn từ Công ty Dầu Tiếng, huyện Krông Buk và suối Ea Mwăt nằm ở phía Tây Nam.

I. Sơ lược cảnh quan di chỉ và vị trí các hố khai quật thám sát.

1. Sơ lược cảnh quan di chỉ:

Di chỉ Xuân Vĩnh nằm trên một ngọn đồi khá thoải, thuộc thôn 7 xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Xung quanh được bao bọc bởi hai con suối, đó là suối Ea Mâm ở phía Đông Bắc bắt nguồn từ Công ty Dầu Tiếng, huyện Krông Buk và suối Ea Mwăt nằm ở phía Tây Nam.

Từ trung tâm thị trấn huyện Krông Năng đi theo đường liên huyện mới được mở nối với quốc lộ 26 Buôn Ma Thuột - Nha Trang tại km52 thuộc huyện Ea Kar, khoảng 3km là tới di chỉ. Toàn bộ vùng thôn Xuân Vĩnh trước kia là nơi sinh sống của đồng bào Êđê.  Trong chiến tranh, chính quyền Sài Gòn đã dồn toàn bộ số dân ở đây về buôn Ea Hồ. Từ năm 1977 đây là vùng kinh tế mới với cư dân chủ yếu được đưa từ Huế lên.

Theo khảo sát của chúng tôi, cho đến nay, di chỉ Xuân Vĩnh là địa điểm khảo cổ học có quy mô lớn nhất của tỉnh Đắk Lắk đã được phát hiện với diện tích khoảng 80.000 m2. Toàn bộ di chỉ phân bố trên một triền gò thấp, thoải dần về phía Nam, được hình thành bởi đất đỏ bazan, nằm liền kề một con suối tương đối lớn, có nước quanh năm. Về mặt địa hình thì đây là một địa điểm cư trú lý tưởng của cư dân cổ, giống như nhiều địa điểm chúng tôi đã khai quật ở Đắk Lắk như: Dhă Prông, Chư K’Tu, Buôn Mrâo…

Những hố đào trồng cà phê với kích thước 50 x 50 x 60cm từ nhiều năm nay của người dân đã đưa lên bề mặt của toàn bộ di chỉ một số lượng rất lớn những mảnh gốm tiền sử, mảnh dọi xe chỉ, mảnh công cụ đá… nằm trên bề mặt của di chỉ.

Ông Nguyễn Ngọc Ái, một cư dân đang sống trên khu vực phân bố của di chỉ, đã đưa cho chúng tôi hai chiếc rìu mài toàn thân, đều thuộc loại rìu chuôi hẹp, trong đó có một chiếc phần chuôi được mài nhẵn như hình Parabol, đây là một chiếc rìu có hình dáng khá đặc biệt với kích thước: Dài 7,8cm; rộng lưỡi 3,9cm; rộng chuôi 1,5cm; dày 1,1cm.

Kết quả một vài hố đào kiểm tra của chúng tôi cho thấy tầng văn hoá dày khoảng 60cm, được hình thành bởi lớp đất đỏ bazan cùng với rất nhiều mảnh gốm. Đồ gốm ở đây là loại gốm thô được pha nhiều cát, gốm có màu nâu hồng.

Thực ra địa điểm Xuân Vĩnh đã được biết đến từ trước đây với việc tìm thấy hai trống đồng Phú Xuân I và Phú Xuân II và mới đây là việc tìm thấy trống đồng Phú Xuân III (trống này hiện đang được cất giữ tại Bảo tàng Đắk Lắk).

Theo các nhà nghiên cứu trống đồng được chôn vào di chỉ ở giai đoạn sau Công Nguyên. Kết quả nghiên cứu bước đầu thì đồ đá và đồ gốm ở đây cho thấy địa điểm Xuân Vĩnh có niên đại sơ kỳ kim khí, cách ngày nay khoảng 3000 năm.

Sau khi khảo sát thực địa tại khu vực thôn Xuân Vĩnh, xã Phú Xuân, huyện Krông Năng chúng tôi đã tiến hành mở 06 hố trong khu vực này với tổng diện tích là 15,8m2.

2. Vị trí các hố thám sát khai quật như sau:

Hố 1: Nằm trong khu vườn cà phê nhà ông Đặng Quỵ với diện tích 4m2 (2m x 2m). Hố 1 được mở theo hướng Tây Bắc cách nhà ông Đặng Quỵ khoảng 20m về hướng Đông Bắc, cách suối Ea Mâm khoảng 70m về hướng Tây Nam.

Hố 2: Trong khu rẫy cà phê nhà ông Đặng Quỵ, phía Bắc giáp rẫy ông Nguyễn Hữu Phước, phía Đông giáp rẫy bà Nguyễn Thị Gái, phía nam giáp rẫy ông Nguyễn Hữu Phước và phía Tây cách suối Ea Mwăt khoảng 200m. Hố được mở theo hướng Bắc Nam, với diện tích 1,5m x 3,5m (5,25m2).

Hố 3: Hố được mở trong khu vực rẫy cà phê của bà Nguyễn Thị Dịu, cách đường liên xã khoảng 20m về hướng Tây, Bắc giáp rẫy bà Nguyễn Thị Gái, Tây cách suối Ea Mwăt khoảng 300m về hướng Đông. Hố được mở theo hướng Tây Bắc, với diện tích 1m x 2m (2m2).

Hố 4: Trong khu vực rẫy cà phê của gia đình ông Đặng Tài, hố được mở cách đường liên xã khoảng 200m về hướng Tây, phía Nam cách khu vực vườn cà phê bà Nguyễn Thị Ba khoảng 7,5m, cách suối Ea Mwăt khoảng 300m về hướng Đông, với diện tích 1,5m x 1,5m (2,25m2).

Hố 5: Nằm trong khu vực vườn cà phê nhà ông Y Lêt Niê Kdăm (Ama Luyên; Aê Hợi). Hố được mở theo hướng Đông Tây với diện tích 1m x 1,5m (1,5m2). Đông cách suối Ea Mâm khỏang 100 m, phía Tây cách đường liên xã khỏang 200m, Bắc giáp đường mòn từ đường liên xã xuống suối Ea Mâm.

Hố 6: Trong khu vườn cà phê nhà ông Y Lêt Niê Kdăm (Ama Luyên; Aê Hợi). Hố được mở theo hướng Đông Tây, với diện tích 1m x 0.5m (0,5m2). Nằm cách đường liên xã khoảng 3m về hướng Đông, Bắc giáp đường mòn xuống suối Ea Mâm. Cách hố 5 khoảng 150m về hướng Tây.

II. DIỄN BIẾN ĐỊA TẦNG VÀ DI VẬT CỦA DI CHỈ.

1. Diễn biến địa tầng.

a. Hố 1:

Diễn biến của tầng văn hóa trong hố 1 nằm rải theo triền đồi nghiêng nhẹ về suối Ea Mâm (ở vách Đông Bắc). Chính vì thế ở vách này tầng văn hóa chỉ dao động trong khoảng từ 20cm đến 30cm và ở vách Tây Nam tầng văn hóa dao động từ 15cm đến 20cm. Lớp đất mặt có lẫn nhiều rễ cây cà phê, đất ở lớp này tơi xốp và màu đất đỏ bazan. Trong lớp mặt này xuất hiện một số mảnh gốm do đào bồn cà phê bật lên, lớp đất này dày 25cm xuất hiện tầng văn hóa.

Lớp 2 xuất hiện tầng văn hóa nhưng do trong hố có nhiều tổ mối nên việc xác định tầng văn hóa không được rõ ràng. Ở lớp này đất có màu nâu đỏ độ cứng ở vách Tây Nam và tơi hơn ở vách Đông Nam, tầng văn hóa dày trung bình khoảng từ 20cm đến 30cm. Lớp sinh thổ đất thuần màu đỏ bazan cứng.

b. Hố 2:

Tầng văn hóa của hố 2 khá ổn định, độ dày của tầng văn hóa dao động từ 20 cm đến 25cm.

Lớp đất mặt có màu nâu đen khá tơi, vón cục có sự xáo trộn trong quá trình canh tác cà phê của người dân, ở lớp mặt này cũng có sự xuất hiện của một số mảnh gốm pha lẫn trong đất, trong đất cũng có nhiều tạp chất. Lớp này có độ dày dao động từ 0 đến 30cm.

Lớp 2 xuất hiện tầng văn hóa, ở lớp này có sự biến đổi màu đất cũng như độ cứng của đất. Đất ở lớp này có màu nâu vón cục có pha lẫn sỏi nhỏ, hiện vật xuất hiện tương đối đều, mảnh gốm nằm rải đều trên toàn bình diện của tầng văn hóa. Tầng văn hóa khá ổn định. Lớp sinh thổ thuần tương đối cứng, đất có màu nâu xám.

c. Hố 3:

Có thể nói hố 3 là trung tâm của khu di chỉ này. Từ việc xuất các hiện vật khá phong phú về chủng loại đến việc ổn định của tầng văn hóa, tầng văn hóa dao động trong khoảng từ 20cm đến 30cm. Tuy vậy ở vách Tây tầng văn hóa có mỏng hơn so với vách Đông khoảng 5cm do có độ nghiêng của ngọn đồi.

Diễn biến địa tầng của hố 3: Lớp mặt có độ dày từ 0 đến 25cm, ở lớp này đất có màu nâu thẫm tương đối xốp, trong đất có lẫn tạp chất và một số mảnh gốm nhưng đây không phải là tầng văn hóa mà chỉ là do người dân đào bồn cà phê làm tung hiện vật lên.

Tầng văn hóa: Cũng như hai hố trên thì hố 3 có sự biến đổi về màu sắc, đất có độ kết cấu cao, cụ thể là lớp đất của tầng văn hóa có màu nâu đen pha lẫn sỏi nhỏ. Lớp dưới của tầng văn hóa đất cứng hơn có pha lẫn sỏi nhỏ, đất có màu nâu xám, hiện vật phân bố thưa dần về dưới và hết. Lớp sinh thổ thuần độ kết dính cao, đất có màu nâu đỏ lẫn sỏi.

d. Hố 4:

Tầng văn hóa không đều theo bình diện của hố mà có sự dao động từ 20cm ở vách Tây đến 30cm ở vách Đông và 25cm ở hai vách Nam và Bắc theo độ nghiêng của ngọn đồi về hướng Đông. Tuy vậy nhưng tầng văn hóa của hố 4 tương đối ổn định ít bị xáo trộn.

Lớp mặt đất có màu nâu đen tương đối xốp đất có lẫn rễ cà phê và tạp chất khác. Độ dày của lớp đất mặt dày từ 0 đến 30cm, ít xen lẫn hiện vật hơn các hố trên.

Dưới độ sâu 30cm của lớp mặt xuất hiện tầng văn hóa của hố khai quật, diễn biến địa tầng có sự thay đổi về màu sắc của đất. Đất ở lớp này có màu nâu, trong đất có lẫn nhiều sỏi dày khoảng 10cm nhất là ở lớp dưới cùng của tầng văn hóa thì mật độ sỏi nhiều hơn so với lớp trên của tầng văn hóa, độ kết cấu của đất cũng cứng hơn. Qua lớp đất pha sỏi dưới cùng là lớp sinh thổ thuần đất bazan.

e. Hố 5:

Không xuất hiện tầng văn hóa, đất thuần bazan tơi xốp.

f. Hố 6:

Lớp mặt đất cứng vón cục, đất có màu nâu xám trong đất có lẫn nhiều rễ cây dại. Nằm ở độ sâu từ 0 đến 30cm, tầng văn hoá dày trung bình 15cm ở vách Tây đến 20cm vách Đông. Tầng văn hoá phân bố từ Tây sang Đông theo độ nghiêng của ngọn đồi, đất ở tầng văn hoá có màu nâu xám. Lớp sinh thổ là lớp đất bazan pha sỏi cứng thuần đất.

2. Di vật của di chỉ

Với diện tích của các hố khai quật thám sát là 15,8m2. Chúng tôi đã thu được 3.678 đơn vị hiện vật, trong đó 3.644 đơn vị là mảnh gốm các loại, số còn lại là công cụ đá, mảnh tước, mảnh vỡ của công cụ đá và một số mảnh vỡ của dọi xe sợi, mảnh bàn mài.

a. Đồ đá:

Qua các hố khai quật thám sát ở đây cũng như việc khảo sát trong khu vực xung quanh các hố thì hiện vật đá cũng xuất hiện khá nhiều, nếu tính theo diện tích các hố khai quật thám sát. Tuy những hiện vật này không còn được nguyên vẹn nhưng qua đó chúng ta thấy rằng mật độ phân bố hiện vật di chỉ này tương đối dày đặc và khá phong phú về loại hình như: Rìu đá, dao đá, bàn mài thô, bàn mài trơn…

b. Đồ gốm:

Có thể nói đồ gốm tập trung rất lớn ở khu di chỉ này, với 3644 mảnh gốm các loại. So với các di chỉ khác như: Di chỉ Čư Ktur ở Ea Kar hay di chỉ Dhă Prông ở Buôn Ma Thuột, Di chỉ Buôn Mrâo ở Krông Pač hay những di chỉ khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk mà chúng ta đã được biết đến từ trước đến nay thì sự phân bố của đồ gốm ở di chỉ này không thua kém gì các di chỉ đó, mà thậm chí còn phong phú hơn về loại hình.

- Về loại hình: Đồ gốm ở đây khá phong phú về loại hình, kiểu dáng, dựa trên những mảnh gốm thu được từ các hố khai quật thám sát, chúng ta có thể xác định được loại hình của đồ gốm như: Loại nồi gốm, vò, bình gốm với nhiều kiểu dáng khác nhau, ví như đồ gốm có miệng loe thẳng, miệng loe khum, hay một số loại khác loe đều hai bên, miệng được vuốt nhọn ở mép trên… Bên cạnh đó đồ gốm ở đây cũng rất phong phú về kích cỡ lớn nhỏ khác nhau.

- Chất liệu: Gốm được làm từ đất sét và được pha một lượng cát khá lớn tạo nên độ cứng cho xương gốm, bên cạnh đó cư dân ở đây cũng đã biết sử dụng các tạp chất bằng thực vật để trộn lẫn vào đất sét làm cho đồ gốm xốp và nhẹ.

- Kỹ thuật tạo gốm: Phần lớn các di chỉ ở Đắk Lắk nói chung, khi tạo sản phẩm gốm người ta vẫn thường sử dụng phương pháp chắp và nặn bằng tay là chủ yếu. Bên cạnh đó người ta cũng có thể sử dụng bàn xoay để tạo dáng cho sản phẩm. Đồ gốm ở di chỉ Xuân Vĩnh cũng không nằm ngoài các phương pháp kỹ thuật truyền thống. Đồ gốm ở đây có độ nung không cao, gốm khá bở, do đó lớp áo ngoài bị tróc nhiều. Tuy vậy nhưng tính thẩm mỹ trên các sản phẩm gồm ở đây đã được người ta chú ý đến thông qua việc miết láng mặt ngoài của sản phẩm, cũng như việc trang trí hoa văn trên các sản phẩm gốm.

- Hoa văn: Hoa văn trang trí đồ gốm ở di chỉ Xuân Vĩnh rất khiếm tốn về loại hoa văn, chủ yếu người ta sử dụng các loại hoa văn khắc vạch, văn thừng hay hoa văn chấm dải đơn giản. Bên cạnh còn có hoa văn trang trí ở phần miệng gốm theo kiểu hình học, loại trang trí miệng này cũng ít xuất hiện trong các mảnh gốm mà chúng tôi thu được.

- Diễn biến sớm muộn của gốm ở các lớp trong tầng văn hóa cũng tương đối rõ ràng. Ở lớp trên, hoa văn chủ yếu là thừng, thân gốm dày hơn dao động trong khoảng từ 0,3 đến 0,5cm, gốm phân bố không đều. Lớp dưới chủ yếu là hoa văn chấm dải, thân gốm mỏng hơn dao động trong khoảng 0,2 đến 0,4cm, phân bố đều trong tầng văn hóa.

 

 

III. MỘT VÀI NHẬN XÉT SƠ BỘ.

Thông qua sự phân bố của hiện vật ở khu di chỉ thôn Xuân Vĩnh cũng như quá trình diễn biến của tầng văn hóa mà chúng tôi đã tiến hành khai quật thám sát thì đây là di chỉ có sự phân bố khá rộng với diện tích khoảng 80.000 m2 .

Với những hiện vật thu đuợc từ các hố khai quật thám sát cũng như những di cốt người trong các trống đồng mà người dân đã phát hiện tại khu vực này chúng tôi cho rằng, đây là di chỉ vừa mang tính chất cư trú vừa mộ táng. Những di vật phát hiện ở đây khá tương đồng với các di vật phát hiện ở các di chỉ Dhă Prông, di chỉ Čư Ktur và di chỉ Buôn Mrâo. Tuy di chỉ thôn Xuân Vĩnh có khả năng muộn hơn so với những di chỉ trên. Đây là khu di chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu thời kỳ tiền sơ sử ở Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung.

Có thể nói ngoài những hiện vật như đồ gốm, đồ đá thu được trong các hố khai quật thám sát, di chỉ thôn Xuân Vĩnh còn là địa điểm có sự phân bố trống đồng lớn nhất từ trước đến nay ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng mà chúng ta biết được.

Di chỉ thôn Xuân Vĩnh là một địa điểm khảo cổ học quan trọng không những việc nghiên cứu Khảo cổ học thời tiền sơ sử ở Đắk Lắk, mà đây còn là nơi đóng vai trò hết sức quan trọng phục vụ cho nghiên cứu trông đồng ở Đắk Lắk cũng như trên khu vực Tây Nguyên này.

Tuy vậy, đến nay ở đây mới chỉ dừng lại ở mức độ thám sát với một diện tích nhỏ lẻ (15.8m2). Trong khi đó sự phân bố của di chỉ dao động trong khoảng 80.000m2. Hiện nay tình trạng khai quật trái phép ở di chỉ này của một số đối tượng với mục đích buôn bán cổ vật diễn ra hết sức phức tạp. Điều này không những làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự trong nhân dân mà còn làm ảnh hưởng đến cảnh quan cũng như gây nguy cơ huỷ hoại di tích. Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần phối hợp với Viện Khảo cổ học để tiến hành khai quật di chỉ thôn Xuân Vĩnh là việc làm hết sức cần thiết, tránh tình trạng hư hại đến di tích. Bên cạnh đó nhằm thu thập thêm tư liệu, hiện vật phục vụ cho công tác nghiên cứu Khảo cổ học tiền sơ sử và việc nghiên cứu trống đồng ở Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung.

Việc sớm tiến hành khai quật cũng bổ sung thêm cho kho tư liệu, hiện vật thời kỳ tiền sơ sử của Bảo tàng Đắk Lắk ngày một phong phú hơn. Nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác trưng bày, tuyên truyền và giáo dục ra công chúng nói chung và nhân dân Đắk Lắk nói riêng hiểu biết thêm về quá khứ của vùng đất và con người Đắk Lắk xưa. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi Bảo tàng tỉnh mới của tỉnh Đắk Lắk đã chính thức đi vào hoạt động, đó là một Bảo tàng hiện đại nhưng vẫn đậm chất truyền thống dân tộc nhằm phong phú thêm nguồn hiện vật nhằm tạo động lực giúp Bảo tàng Đắk Lắk vươn tới trở thành một Bảo tàng đẳng cấp trong khu vực./.

 

Tin xem nhiều nhất

Đôi nét về văn hóa phi vật thể của người Êđê ở Đắk Lắk trong công cuộc đổi mới

Văn hoá phi vật thể gồm nhiều yếu tố cấu thành. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ đề cập ...

Quân và dân Đắk Lắk với cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945

Đầu tháng 8/1945, ở Đắk Lắk, những yếu tố của thời kì tiền khởi nghĩa đã hình thành và bùng lên ...

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột giải phóng tỉnh Đắk Lắk (10/3/1975 – 10/3/2015) Lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk tiến quân giải phóng quận Lạc Thiện (Lắk) “Sự kiện nhiều người ít biết đến”

Đại tá Phan Công Thí

Nguyên Chủ nhiệm Chính trị

Bộ chỉ  huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk

Thực hiện quyết ...

Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ tài nguyên rừng tại Bảo tàng Đắk Lắk

Trong bối cảnh hiện nay, khi rừng và các tài nguyên rừng của Đắk Lắk ngày càng bị tàn phá nặng nề ...

Phụ nữ Việt Nam và tám chữ vàng

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã ghi nhận sự đóng góp vô cùng to lớn của các ...

Sưu tầm tư liệu Lễ đàn Tứ phủ tại đền Vạn Kiếp

Sưu tầm tư liệu, hình ảnh bổ sung cho kho tàng văn hóa phi vật thể là hoạt động thường xuyên của ...

Khai quật thám sát di chỉ khảo cổ học thôn Xuân Vĩnh xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk

Di chỉ Xuân Vĩnh nằm trên một ngọn đồi khá thoải, thuộc thôn 7 xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, ...

Danh lam thắng cảnh

Danh lam thắng cảnh

KHÁCH SẠN GẦN BẢO TÀNG

Nhà hàng

Số lượt truy cập

000492215
Hôm nay
Trong tuần
Trong tháng
Tất cả
151
2616
2616
492215