Hoạt động binh vận giai đoạn 1966 - 1968 tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của tỉnh Đắk Lắk

Trong những năm kháng chiến chống quân xâm lược, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc kết hợp binh - địch vận với tác chiến, đẩy mạnh công tác địch vận trong chiến đấu; đưa công tác binh - địch vận trở thành một trong ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh - địch vận) đã góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Đồng chí Huỳnh Quang Cẩm, nguyên cán bộ Ban Tổ chức Tỉnh ủy theo dõi tình hình đoàn biểu tình cánh Bắc Xuân Mậu Thân 1968

Bị suy sụp trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, lúc này tuy được đế quốc Mỹ tiếp sức, cố vực dậy nhằm đẩy mạnh đánh phá bình định tại địa phương nhưng ngụy quân ngụy quyền không khắc phục được tâm trạng lo sợ, tư tưởng thất bại của binh lính, công chức ngụy quyền các cấp. Các cuộc hành quân giải tỏa, đánh phá sâu vào vùng của ta đều do quân Mỹ phải trực tiếp đảm nhiệm và quân ngụy chỉ làm nhiệm vụ phối thuộc.

Đồng chí Đinh Kinh Anh, người theo dõi tin tức đài giải phóng, đánh máy các tin tức theo sự chỉ đạo của TW và báo cho lãnh đạo huyện ủy để kịp thời tuyên truyền

Bám chắc sự chỉ đạo của cấp trên và trực tiếp của Thường vụ Tỉnh ủy, các hoạt động binh vận được tiếp tục đẩy lên một bước mới. Xác định đúng đối tượng tấn công binh vận thời kỳ này là cả ngụy lẫn Mỹ, song tập trung chủ yếu và thường xuyên là các sắc lính ngụy. Tăng cường được lực lượng cán bộ chuyên trách và phương tiện công tác cho các địa bàn, nhất là tại các trọng điểm: thị xã Buôn Ma Thuột, căn cứ H4, H5,…

Vừa đẩy mạnh hoạt động trực tiếp tuyên truyền phát động quần chúng, vừa phát tán các loại truyền đơn, khẩu hiệu, các lời hiệu triệu của Mặt trận dân tộc giải phóng rộng rãi trong quần chúng và vào các sắc lính địch thông qua thân nhân gia đình binh sĩ hoặc các cơ sở hợp pháp để đưa vào tay địch, cài, dán, rải vào đồn địch, vào ấp, trên các tuyến hoạt động của địch. Đã khắc phục các khó khăn, thiếu thốn, huy động tối đa các khả năng tại chỗ để in, viết tay được hàng vạn truyền đơn, khẩu hiệu, thư tranh thủ các loại mỗi năm, bằng cả tiếng phổ thông, tiếng của người dân tộc tại chỗ, tiếng Anh,… kịp phục vụ yêu cầu hoạt động. Nội dung các loại tài liệu này tập trung vào phát huy kịp thời thắng lợi các mặt của ta; khoét sâu mặt yếu, chỉ ra âm mưu, hành động bạo tàn và sự thất bại tất yếu của Mỹ - ngụy; khơi dậy ý thức dân tộc, lòng yêu nước của quần chúng, binh sĩ địch, chỉ ra con đường hành động đúng của binh lính các cấp. Các vùng trong tỉnh, từ số ít cho đến tập trung đã có hàng chục vạn lượt quần chúng được tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng về công tác binh vận, trong đó có hàng ngàn lượt gia đình binh sĩ nhất là các địa bàn trọng điểm. Đã quan tâm chỉ đạo công tác vận động gia đình binh sĩ địch từ đó phát huy được khả năng và vai trò của họ trong nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng tại chỗ hoặc kéo lên đồn, lên quận. Họ biết dựa vào thế hợp pháp của mình để đấu tranh với địch, vạch tội ác của Mỹ - ngụy như: hủy diệt buôn làng, phá nương rẫy, cướp bóc tài sản, dồn dân lập ấp chiến lược, vây ráp bắt đi lính cho chúng,… Kết hợp đấu lý, đấu lẽ với truyền đơn, khẩu hiệu, tranh thủ sự đồng tình của binh lính nhất là binh lính người dân tộc không chịu đàn áp, cướp phá buôn làng mình. Nhiều nơi địch đã buộc phải nhượng bộ, hạn chế được tổn thất cho ta. Cũng thông qua gia đình, người thân, ta đã tiếp xúc với số đông phòng vệ dân sự, dân vệ, nghĩa quân các cấp, gặp gỡ giáo dục nhiều lính về phép, từ đó nắm được số đông phòng vệ dân sự từ tổ, tiểu đội đến trung đội (các H2, H3, H10,…); chọn lọc xây dựng thành cơ sở hợp pháp, cơ sở nội tuyến và vận động như: Không chấp hành lệnh canh gác, chống lệnh đi lùng sục (H2, H4), nằm im không chống trả khi quân ta đột nhập ấp, gọi loa (H10), đến đào ngũ từ số ít đến từng tổ. Họ bỏ súng, trả súng về nhà làm ăn hoặc ta vận động họ phục vụ các yêu cầu của ta như tổ chức chuyển lương thực trong ấp ra ngoài cho ta, bảo vệ ta vào ấp công tác,… Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 1966, toàn tỉnh có 708 lính địch đào ngũ, phá lỏng kìm kẹp ở các khu đồn, ấp chiến lược, mở rộng cơ sở cách mạng lấn sâu vào vùng địch kiểm soát.

Đến cuối năm 1967, ta đã xây dựng được hàng chục cơ sở cách mạng trong các đơn vị nghĩa quân, dân vệ tại các khu đồn, ấp chiến lược, một số đơn vị bảo an, đặc biệt ta đã dày công xây dựng các cơ sở nội tuyến ở đơn vị sửa chữa quân cụ 552, ở tiểu đoàn thám kích khu pháo binh, tại căn cứ trung đoàn 45 thuộc sư đoàn 23, ở tiểu khu Bảo an Đắk Lắk,… và vận động họ hành động phục vụ tích cực nhiệm vụ chính trị, quân sự của ta, tiêu biểu là các trận đánh khu kho Mai Hắc Đế, đánh Phòng hành quân sư đoàn 23,…; cơ sở của ta ở khu pháo binh đã bỏ sạn vào nòng pháo, phá hủy 3 khẩu pháo, gây tác động mạnh vào bọn đầu não Mỹ ngụy và hàng ngũ binh sĩ địch.

Tại các địa bàn nông thôn, thông qua cơ sở của ta, các phòng vệ dân sự, nghĩa quân đã án binh bất động khi lực lượng và quần chúng của ta bao vây quận lỵ Phú Nhơn, uy hiếp chi khu Kamga làm cho bọn chỉ huy ở đây lúng túng ứng phó. Tại các vùng khác đều có những hành động phản chiến, chống lại các thủ đoạn của bọn chỉ huy ác ôn với các mức độ khác nhau, làm cho nội bộ hàng ngũ địch thêm dao động, phân tán, mất phương hướng đối phó.

Với những thắng lợi to lớn Xuân Mậu Thân 1968 đã tạo ra thế mới để ta tiếp tục phát triển tiến công vào hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền các cấp, càng làm chúng thêm hoang mang dao động, sa sút niềm tin vào chế độ Mỹ - ngụy, hiện tượng đào ngũ, phản chiến trong các sắc lính cả ngụy lẫn Mỹ càng phát triển.

Hàng chục cuộc đấu tranh của quần chúng các huyện kéo lên đồn, lên quận đòi chồng con, lôi kéo người thân tại ngũ về với gia đình. Riêng quý 3 năm 1968 tại H3, H8 có 8 cuộc gồm 4.000 lượt quần chúng, có gần 3.000 lượt người nhà binh sĩ địch tham gia; ở ven thị xã Buôn Ma Thuột từ số ít đến từng tốp đã có 28 lượt người nhà binh sĩ vào các đơn vị địch ở nội thị kêu gọi, vận động chồng con em bỏ ngũ. Binh lính địch đào ngũ từ sau Tết Mậu Thân ngày một tăng. Riêng ở H3 trong 6 tháng đầu năm 1968 đã có 248 binh lính địch đào ngũ về nhà, trong đó có 105 lính bảo an, nhiều nhất là vùng Phú Nhơn, Phú Thiện. Ở các H10, H3, H6 qua cơ sở tại chỗ và gia đình, ta đã tiếp xúc giáo dục 85 lính tại ngũ; riêng quý 3/1968 ở các huyện trên đã có 110 binh sĩ bỏ ngũ về nhà, tan rã 1 đoàn bình định nông thôn (H10), nghĩa binh ở sư bộ 23 đã kéo về với cách mạng 1 tiểu đội với đầy đủ trang bị, được ta tiếp nhận.

Thắng lợi Xuân Mậu Thân 1968 của tỉnh đã góp phần cùng toàn miền giáng đòn quyết định vào chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Đế quốc Mỹ, buộc chúng dù rất ngoan cố vẫn phải bắt đầu quá trình xuống thang chiến tranh, chuyển sang chiến lược “phi Mỹ hóa” rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút dần quân Mỹ và chư hầu về nước đi vào đàm phán 4 bên để tiến tới kết thúc chiến tranh xâm lược của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Trong quá trình này, nhiệm vụ binh vận luôn giữ vững vai trò rất quan trọng, có tính chất chiến lược, đã phối hợp và phục vụ đắc lực cho mũi đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang để giành thắng lợi.

Ảnh tư liệu Bảo tàng Đắk Lắk

Phòng Truyền thông

 

 

 

 

Tin xem nhiều nhất

Đôi nét về văn hóa phi vật thể của người Êđê ở Đắk Lắk trong công cuộc đổi mới

Văn hoá phi vật thể gồm nhiều yếu tố cấu thành. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ đề cập ...

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột giải phóng tỉnh Đắk Lắk (10/3/1975 – 10/3/2015) Lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk tiến quân giải phóng quận Lạc Thiện (Lắk) “Sự kiện nhiều người ít biết đến”

Đại tá Phan Công Thí

Nguyên Chủ nhiệm Chính trị

Bộ chỉ  huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk

Thực hiện quyết ...

Quân và dân Đắk Lắk với cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945

Đầu tháng 8/1945, ở Đắk Lắk, những yếu tố của thời kì tiền khởi nghĩa đã hình thành và bùng lên ...

Hoạt động trình diễn nghề thủ công truyền thống dân tộc tại Bảo tàng Đắk Lắk

Nghề thủ công truyền thống (đan lát, làm gốm, dệt thổ cẩm…) hay việc chế tác nhạc cụ rất phổ biến ...

Lớp tập huấn kỹ năng trình bày và kể chuyện trong khuôn khổ Photovoice tại Đắk Lắk

Từ ngày 17 - 20/3/2014, Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) đã phối hợp với Bảo ...

Sưu tầm hiện vật liên quan đến hoạt động tàn phá rừng trái phép

Với diện tích 13.125 km2, Đắk Lắk là một Cao nguyên lớn xen lẫn những núi và thung lũng, kết quả ...

Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ tài nguyên rừng tại Bảo tàng Đắk Lắk

Trong bối cảnh hiện nay, khi rừng và các tài nguyên rừng của Đắk Lắk ngày càng bị tàn phá nặng nề ...

Danh lam thắng cảnh

Danh lam thắng cảnh

KHÁCH SẠN GẦN BẢO TÀNG

Nhà hàng

Số lượt truy cập

000437030
Hôm nay
Trong tuần
Trong tháng
Tất cả
41
695
6908
437030